Các phương thức tuyển dụng cũng thay đổi theo nhằm thích ứng và cải thiện hiệu quả tuyển dụng theo hành vi | Cung cấp công nhân sản xuất

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "HOCHIMINH.TRUNGTAMHOCTIENGANH.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Cung cấp công nhân sản xuất: 0981.293.005 - 0969.786.635


Theo kinh nghiệm thực tế và tổng hợp lại của các chuyên gia tuyển dụng về phương thức tuyển dụng mà hầu hết các doanh nghiệp đang áp dụng thì có một số phương pháp tuyển dụng truyền thống như:

2.1. Thông báo tuyển dụng

Nhà tuyển dụng thực hiện xây dựng nội dung thông báo tuyển dụng nhân sự để cho mọi người nắm bắt được thông tin yêu cầu và vị trí cần tuyển dụng. Bộ phận nhân sự có thể gửi thông báo tới toàn bộ nhân viên trong công ty hoặc dán thông báo trên biển hiệu của công ty. Phương pháp này thường áp dụng với các doanh nghiệp tập trung trong khu vực có đông người lao động thường xuyên đi tìm việc như khu công nghiệp, cụm công nghiệp…

2.2. Nhân viên trong công ty giới thiệu nhân sự

Dựa trên các mối quan hệ của nguồn lao động tại công ty mà Nhà tuyển dụng thực hiện xây dựng các chính sách cho người giới thiệu nhân sự để khuyển khích toàn bộ cán bộ công nhân viên của công ty tích cực trong việc giới thiệu nguồn lao động cho công ty để có thể tìm được nhân sự phù hợp.Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng.

2.3. Đăng quảng cáo, tin tuyển dụng trên các phương tiện truyền thông

Việc thực hiện đăng quảng cáo, tin tuyển dụng là cách thức được các nhà tuyển dụng áp dụng thường xuyên nhất. Nhà tuyển dụng có thể đăng tin tuyển dụng trên báo, tạp chí, truyền hình và đài phát thanh. Hiện nay có nhiều trang web tuyển dụng có thể giúp nhà tuyển dụng làm tốt điều này.

2.4. Hội chợ việc làm

Hội chợ việc làm là nơi các ứng viên đến để tham gia tìm hiểu các thông tin tuyển dụng và tìm công việc phù hợp với bản thân. Nắm bắt được tâm lý chung này mà nhiều nhà tuyển dụng đã tận dụng và khai thác tương đối tốt nguồn ứng tại các hội chợ việc làm.



2.5. Liên kết tuyển dụng với các trường đào tạo nhân lực chuyên môn

Với chiến lược nhân sự lâu dài, các nhà tuyển dụng đã tìm đến nguồn nhân sự tại các trường đại học, cao đẳng để đảm bảo nguồn lực cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất – kinh doanh của mình.

3. Phương thức tuyển dụng nhân sự hiệu quả hiện nay

Ngày nay với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông. Các phương thức tuyển dụng cũng thay đổi theo nhằm thích ứng và cải thiện hiệu quả tuyển dụng theo hành vi và thói quen của ứng viên tìm việc. Hiện nay có một số phương pháp tuyển dụng đã được nhiều công ty đang áp dụng và đã mang lại hiệu quả tích cực như:

3.1. Tuyển dụng qua mạng xã hội

Theo báo cáo trên, mức dân số Việt Nam hiện nay là hơn 92 triệu người, trong đó, số dân thành thị chiếm khoảng 27 triệu người (31%) và số dân cư nông thôn là 56 triệu người (70%). Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thâm nhập của Internet vào đời sống của người dân cũng ngày một tăng cao. Theo điều tra, hiện nay, số lượng người sử dụng Internet đã chiếm đến 39% trên tổng dân số. Các trang mạng xã hội như Facebook cũng đã thu hút được 22%  (20 triệu người). Ngoài ra còn 1 số mạng xã hội khác cũng chiếm được Google Plus, Twitter, LinkedIn, Pinterest cũng là các mạng xã hội được người dùng yêu thích. Thời gian trung bình sử dụng mạng xã hội trung bình một ngày cao giúp cho mạng xã hội trở thành một công cụ tất yếu để xây dựng hệ thống tuyển dụng, và thực hiện hiệu quả các chiến dịch tuyển dụng, tuyển dụng qua mạng xã hội sẽ tiếp cận được một khối lượng ứng viên khổng lồ đặc biệt là nhóm đối tượng trẻ, thông qua tương tác và chia sẻ trên mạng xã hội sẽ giúp chi phí tuyển dụng được tối ưu hóa 1 cách đáng kể. Từ các số liệu trên cho thấy nguồn ứng viên từ các mạng xã hội là rất lớn, đây là một kênh tuyển dụng mà chúng ta nên khai thác. Lợi thế của kênh này đó là:

-         Chi phí dành cho việc tuyển dụng thấp, dễ dàng thực hiện

-         Nguồn ứng viên đa dạng, có hiệu ứng lan truyền cao

-         Có thể thực hiện tuyển dụng ở mọi lúc, mọi nơi

Việc khai thác nguồn ứng viên qua mạng xã hội cũng là một điều mà các nhà tuyển dụng lớn đang xây dựng chiến lược để đảm bảo mang lại hiệu quả cao, tìm được ứng viên phù hợp trong thời gian nhanh nhất. Cách thức chung mà hầu hết các nhà tuyển dụng đang triển khai hiện nay như:

-         Xây dựng trang tuyển dụng chuyên biệt, hướng vào cụ thể một đối tượng nào đó, ví dụ như tuyển dụng nhân viên tiếng nhật, tuyển dụng theo khu
     Liên kết trang tuyển dụng của công ty với các trang tuyển dụng khác để tạo hiệu ứng lan truyền.



-         Thực hiện quảng bá trang tuyển dụng qua nhiều hình thức như câu like, chia sẻ thông tin, đăng thông tin tuyển dụng…

-         Đăng tin tuyển dụng tại các trang tuyển dụng khác

3.2. SMS tuyển dụng

Theo thống kê đến tháng 01/2014, Việt Nam có 134 triệu thuê bao di động đang hoạt động. Đây cũng là một kênh quảng bá thông tin tuyển dụng rất hữu hiệu mà nhiều nhà tuyển dụng đang áp dụng tuy nhiên không phải nhà tuyển dụng nào cũng khai thác được nó một cách hiệu quả và đúng cách, có nhiều trường hợp đã bị coi là spam tin nhắn rác và bị nhà mạng chặn.

Để đảm bảo việc thực hiện sms hiệu quả, phương pháp mà một số nhà tuyển dụng đã thực hiện như:

-         Sử dụng Phần mềm gửi tin nhắn SMS kết hợp với USB 3G + SIM để gửi tin: Sử dụng USB 3G có gắn SIM điện thoại bất kỳ, kết hợp với Phần mềm gửi tin nhắn được cài đặt trên máy tính để gửi tin. Phần mềm sẽ kết nối với USB 3G và gửi tin theo nội dung và danh sách số điện thoại do nhà tuyển dụng  nhập vào (nhập thủ công hoặc hàng loạt).

-         Hoặc Sử dụng tin nhắn SMS BrandName để quảng cáo: Nhà tuyển dụng mua tài khoản gửi tin nhắn của 1 nhà cung cấp dịch vụ này. Khi có nhu cầu gửi tin, Nhà tuyển dụng truy cập vào sever của họ để gửi tin nhắn cho người dùng. Tên hiển thị trên máy người dùng là tên mà nhà tuyển dụng đăng ký với nhà cung cấp

-         Sử dụng đầu số 8xxx, 7xxx, 6xxx để gửi tin nhắn quảng cáo cho ứng viên: Thuê đầu số 8xxx,7xxx,6xxx của các Nhà cung cấp đầu số để quảng bá cho khách hàng. Cơ chế giống SMS BrandName (có tài khoản đăng nhập gửi tin + trả tiền theo tháng).

Tùy vào kinh phí dành cho việc tuyển dụng mà nhà tuyển dụng lựa chọn một trong các phương pháp sms tuyển dụng trên.

3.3. Dịch vụ cung ứng nhân sự

Ngoài 2 phương pháp sử dụng thông tin và truyền thông ở trên thì hiện nay việc ra đời của nhiều công ty dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự cũng đã trở thành một sự lựa chọn, một giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán nhu cầu nguồn ứng viên mà nhiều nhà tuyển dụng đã sử dụng.

Trên thị trường dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự hiện nay đã có nhiều công ty nắm bắt nhanh được nhu cầu của các doanh nghiệp và xây dựng được một hệ thống tuyển dụng rộng khắp, tiêu biểu như công ty PGB, Hrlink, M-Talent,…

Khi nhà tuyển dụng có nhu cầu sử dụng dịch vụ cung ứng lao động, thì các công ty sẽ dựa trên yêu cầu và thực hiện tuyển dụng, kênh tuyển dụng  này sẽ giúp nhà tuyển dụng đa dạng hóa được nguồn ứng viên, giảm thiểu rủi ro và chi phí tuyển dụng mà vẫn tuyển được ứng viên phù hợp và nhanh chóng nhất.

4. Dịch vụ tuyển dụng, Dịch vụ cung ứng nhân sự là gì

Chúng ta có thể hiểu nôm na dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự là việc nhà tuyển dụng thuê một công ty chuyên về tuyển dụng và cung ứng nhân sự tìm kiếm ứng viên, người lao động đảm bảo theo yêu cầu của nhà tuyển dụng.Ở đó, công ty dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự đóng vai trò là cầu nối giữa người lao động, ứng viên với nhà tuyển dụng. Khi kết thúc việc tuyển dụng cho nhà tuyển dụng thì công ty dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự sẽ được nhà tuyển dụng trả cho một khoản kinh phí đó là phí tuyển dụng.



Lĩnh vực về dịch vụ tuyển dụng và cung ứng nhân sự ra đời cũng không lâu, nó xuất phát từ việc nhiều doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài được mở ra, nhu cầu nhân sự tăng cao, sự cạnh tranh nhân sự, người lao động ngày càng mạnh mẽ. Với yêu cầu tuyển dụng, chọn lựa ứng viên ngày càng chặt chẽ thì các công ty dịch vụ cũng đã ngày càng đa dạng hóa nguồn ứng viên và xây dựng được một quy trình tuyển dụng riêng mang tính đặc thù cho từng loại đối tượng tuyển dụng.

5. Lợi ích của Dịch vụ cung ứng nhân sự, Dịch vụ tuyển dụng nhân sự

-         Giải quyết vấn đề lao động, nhân sự, đảm bảo công việc được thực hiện theo kế hoạch của nhà tuyển dụng

-         Tiết kiệm chi phí về tuyển dụng nhân sự, hiệu quả tuyển dụng cao

-         Được bảo hành về nhân sự, lao động nếu lao động đó không phù hợp

-         Chất lượng nhân sự cung ứng đảm bảo yêu cầu

-         Không phải nhận rủi ro về chi phí tuyển dụng bỏ ra như khi thực hiện tự tuyển dụng
 


Cung cấp công nhân sản xuất

Hiện nay Dịch vụ cung ứng nguồn nhân sự thời vụ rất phát triển tại Việt Nam và đặc biệt được các doanh nghiệp FDI sử dụng thường xuyên. Bởi cùng với sự phát triển thì kèm theo đó là sự cạnh tranh về tuyển dụng lao động phổ thông làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của các công ty gặp một số khó khăn nhất định. Để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, nhân sự là yếu tố có vai trò quan trọng của doanh nghiệp. Xuất phát từ yêu cầu trên các doanh nghiệp đã dùng nhiều biện pháp để tuyển dụng nhân sự, sẵn sàng trích một nguồn kinh phí lớn cho tuyển dụng song kết quả vẫn không đáp ứng được yêu cầu.
Thiết kế web bán hàng chuẩn seo Check bài chuẩn SEO cùng 7 công cụ phổ biến nhất hiện nay, Công cụ kiểm tra đạo văn hoàn toàn miễn phí hỗ trợ bạn tìm ra những đường link có nội dung trùng lặp. Bạn chỉ cần nhập 1 đoạn văn bản vào

Kinh nghiệm về mở tài khoản ngân hàng của công ty

    Người đại diện cho công ty hay chủ công ty cho thuê lại lao động mang , giấy phép đăng ký của công ty và con dấu công ty ra ngân hàng để mở tài khoản ngân hàng cho công ty.

Kinh nghiệm làm kế toán và thuê dịch vụ kế toán

    Nếu công ty cho thuê lại lao động chưa thuê được kế toán viên thì có thể thuê dịch vụ kế toán ở Nam Việt Luật để được hỗ trợ làm kế toán cho công ty trong giai đoạn ban đầu.

Kinh nghiệm khắc con dấu cho công ty

    Công ty cho thuê lại lao động sau khi có mã số thuế thì cần thực hiện khắc con dấu riêng của công ty theo như quy định. Mẫu dấu cũng cần công bố công khai trên trang thông tin quốc gia.

Kinh nghiệm về đóng thuế sau khi mở công ty cho thuê lại lao động

    Doanh nghiệp cần đóng những loại thuế như thuế môn bài, thuê thu nhập và thuế GTGT sau khi mở công ty.

Kinh nghiệm về đăng ký chữ ký số

    Công ty cho thuê lại lao động có thể đăng ký mua chữ ký số để tiến hành đóng thuế trực tuyến sau khi thành lập công ty.

1. Thực trạng về lao động cho thuê lại ở Việt Nam
Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động.

Vấn đề đặt ra là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định trên có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay không?



Câu trả lời trên thực tế nhận được ở Việt Nam trong thời gian qua không đồng nhất. Điều này thể hiện ở hai quan điểm dường như trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, quy định về hoạt động dịch vụ việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động không bao gồm hoạt động cho lại lao động. Những người theo quan điểm này còn dựa vào quy định về giao kết hợp đồng lao động tại Điều 30 Bộ luật Lao động Việt Nam để khẳng định chắc chắn rằng Việt Nam không chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động. Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định về hoạt động dịch việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam bao gồm cả hoạt động cho thuê lại lao động (bao gồm trong hoạt động cung ứng lao động). Những người theo quan điểm này còn cho rằng trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động không thấy có quy định cấm hoạt động cho thuê lại lao động và trên thực tế đăng ký kinh doanh ở một số địa phương, hoạt động này đã được chấp nhận trong “ngành nghề kinh doanh” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh (ví dụ: Hà Nội). Dư luận xã hội cũng chia làm hai luồng: ủng hộ và không ủng hộ hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam với những lý lẽ khác nhau

Theo các phương tiện thông tin đại chúng, dịch vụ cho thuê lao động đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001, điển hình phải kể đến các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Theo đó, một số doanh nghiệp (có giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm) ký hợp đồng lao động với người lao động, sau đó cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở “hợp đồng cung ứng lao động” hay “hợp đồng dịch vụ lao động” [3]. Hai xu hướng hoạt động nổi lên là: cho thuê lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và cho thuê lao động phổ thông. Trong đó, dịch vụ cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ hoặc hình thức tương tự là phổ biến hơn. Cũng theo phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động cho thuê lao động đã tồn tại từ lâu nhưng dường như đặt ngoài sự quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cho đến khi phát sinh một số vụ tranh chấp có liên quan hoặc các cơ quan, tổ chức hữu quan lên tiếng. Dưới góc nhìn của những doanh nghiệp cung ứng lao động (bên cho thuê lao động) và doanh nghiệp thuê lao động thì đây là một hoạt động phù hợp với tính linh hoạt của thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và người lao động và nhìn chung là mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, dưới cách nhìn của tổ chức đại diện người lao động (Công đoàn) cũng như của cơ quan quản lý nhà nước thì hoạt động này trong thời gian qua đã gây nhiều thiệt thòi cho người lao động cho thuê lại, như: người lao động cho thuê lại bị bớt xén tiền lương, không được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như không được hưởng các phúc lợi xã hội như những người lao động khác. Không ít các vụ tranh chấp lao động thời gian qua liên quan đến hoạt động cho thuê lao động đã minh chứng cho những lo ngại này.



Thái độ của các cơ quan quản lý nước về lao động đã rõ ràng về vấn đề này thông qua các công văn trả lời chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và một số Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho một số khu công nghiệp và doanh nghiệp. Tại Công văn số 3880/LĐTBXH ngày 01/10/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Sài Gòn Nguyễn Gia, Công văn số 2891/LĐTBXH -LĐVL ngày 15/8/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Shell Việt Nam (Đồng Nai) về hợp đồng cung ứng dịch vụ lao động và một số công văn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai nhìn chung đều viện dẫn khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động để đi đến kết luận là dịch vụ lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam không bao gồm hoạt động cho thuê lao động và hoạt động này trên thực tế đã vi phạm cách thức giao kết hợp đồng lao động và vi phạm pháp luật lao động Việt Nam [5], [7]. Từ thái độ này của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động khớp nối với thực tế đã có địa phương chấp nhận hoạt động cho thuê lao động trong nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp như đã đề cập (đoạn 4 bài viết này) đã gây ra phản ứng tiêu cực từ phía các doanh nghiệp là tại sao cùng một hoạt động mà địa phương này cho phép còn địa phương khác lại không cho phép? và không thể ngăn cản sự nghi ngờ về tính minh bạch của pháp luật cũng như tính minh bạch và công bằng trong công tác quản lý của nhà nước. Đúng là thực tế đó đã không thể phủ nhận sự thiếu tính liên thông cần thiết và sự không thống nhất trong hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng trong thời gian qua.
Một vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Trong tương lai, Việt Nam có nên chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động hay không? Và nếu có thì chấp nhận trong giới hạn nào?


Câu trả lời tạm thời được thể hiện trong Dự án Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung của Việt Nam. Theo dự thảo 3 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung (ngày 08/2/2010) thì hoạt động cho thuê lại lao động sẽ được thừa nhận ở Việt Nam (khoản 4, 5 Điều 4; Mục V chương III, từ Điều 65 đến Điều 69). Những quy định trong dự thảo cho thấy các nhà lập pháp Việt Nam đang giữ quan điểm sẽ cho phép hoạt động cho thuê lại lao động nhưng coi đây là hoạt động có điều kiện. Theo đó, chỉ những doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định và được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động thì mới được tiến hành hoạt động này. Điều quan trọng là sẽ có danh mục các loại công việc được phép cho thuê lại lao động và việc cho thuê lại lao động chỉ được thực hiện với sự đồng ý của chính người lao động. Tuy nhiên, trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung chưa quy định cụ thể những điều kiện đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục các công việc được phép cho thuê lại lao động. Cụ thể hóa những nội dung này thuộc trách nhiệm của Chính phủ trong quá trình tổ chức thực hiện Bộ luật thể hiện trong Nghị định hướng dẫn thi hành. Qua việc trưng cầu ý kiến toàn dân cho thấy vẫn đang tiếp tục tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau, trong đó ủng hộ cho hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo cũng nhiều, phản đối hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo quy định cũng không ít.

Đề xuất ban đầu cho việc điều chỉnh pháp luật Việt Nam đối với lao động cho thuê lại



Tác giả tán đồng với quan điểm cho rằng nội dung hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động. Từ góc độ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả thấy rằng nên ủng hộ và chấp nhận điều chỉnh pháp luật theo hướng cho phép hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam trong thời gian tới vì những lý do cơ bản sau ề phương diện kinh tế - xã hội: chấp nhận và quản lý tốt hoạt động cho thuê lại lao động (chấp nhận lao động phái cử) sẽ đáp ứng được nguyện vọng và mang lại lợi ích kinh tế cho cả ba bên: doanh nghiệp cho thuê, doanh nghiệp thuê lại lao động và người lao động cho thuê lại. Doanh nghiệp cho thuê lao động là các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, bản thân các doanh nghiệp này cũng muốn mở rộng phạm vi của hoạt động dịch vụ việc làm, nhất là hoạt động cho thuê lại lao động - một lĩnh vực hoạt động mà theo họ là thức thời, phù hợp với sự vận động tất yếu của thị trường lao động, mang lại nguồn thu không nhỏ cho các doanh nghiệp dịch vụ việc làm. Doanh nghiệp thuê lại lao động có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí về nhân lực, thời gian và tài chính cho việc tuyển chọn, quản lý lao động, giải quyết lao động dôi dư...Đồng thời, doanh nghiệp thuê lại lao động cũng không phải trực tiếp “đối diện” với những rủi ro xảy ra đối với người lao động, vừa tránh được phiền hà, vừa đỡ tốn kém. Với những công việc có tính chất thời vụ hoặc có tính chất tương tự thì các doanh nghiệp sẽ không bị rơi vào tình trạng “thừa người, thiếu việc” mà vẫn phải thanh toán lương cho người lao động như sử dụng lao động trong biên chế chính thức của doanh nghiệp. Bản thân những người lao động (được sử dụng để cho thuê lại) cũng có thể yên tâm về việc làm và thu nhập trong suốt thời gian có hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lao động, kể cả trong trường hợp tạm thời không có việc làm do gián đoạn việc cho thuê lại.
Cùng với lợi ích kinh tế - xã hội mà ba chủ thể nêu trên có thể đạt được, nhà nước cũng có thêm một nguồn thu từ hoạt động cho thuê lại lao động của các doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là từ việc chấp nhận hoạt động này nhà nước thể hiện thái độ tích cực của mình đối với nhu cầu có thật của thị trường lao động Việt Nam trong thời gian gần đây, tôn trọng sự thật khách quan của thị trường lao động, hòa nhập sâu rộng hơn vào thị trường lao động khu vực và quốc tế. Từ đó cũng có thể hạn chế được những luồng dư luận xã hội trái chiều, thậm chí còn có thể định hướng được dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực khi đánh giá vấn đề lao động cho thuê lại ở Việt Nam.

- Về phương diện pháp lý: hoàn thiện pháp luật lao động nói chung, pháp luật về hợp đồng lao động nói riêng cho phù hợp hơn với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường, để điều chỉnh hiệu quả hơn quan hệ lao động là sự mong đợi lớn trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động lần này ở Việt Nam. Trong đó, như đã khẳng định, vấn đề chấp nhận điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động là mong đợi của nhiều doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) và cũng là mong đợi của không ít người trong lực lượng lao động xã hội. Vì vậy, việc bổ sung những quy định về cho thuê lại lao động cho dù có thể có những quan điểm trái chiều, nhưng thiết nghĩ cần phải nhìn nhận đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong công tác lập pháp và điều chỉnh pháp luật lao động của Việt Nam. Thực tế đã chứng minh, nhu cầu cho thuê lại lao động là có thật, nếu trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định cụ thể vấn đề này sẽ làm đầy đủ hơn nội dung của hoạt động dịch vụ việc làm, làm hợp lý hơn công cụ pháp lý để nhà nước quản lý thị trường lao động một cách hiệu quả hơn trong tương lai. Tình trạng nhà nước phải “thụ động đối phó” với hoạt động cho thuê lại lao động sẽ dần được xóa bỏ.

- Về phương diện chính trị: chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động không làm ảnh hưởng đến thể chế chính trị của Việt Nam vì đơn thuần đó chỉ là sự thừa nhận thực tại khách quan đã, đang và sẽ còn tồn tại ở Việt Nam.
 Một câu hỏi lớn mà tìm lời giải cho nó không hề đơn giản là Việt Nam cần quy định vấn đề lao động cho thuê lại (cho thuê lại lao động) theo hướng nào? Để góp phần trả lời câu hỏi này, tác giả có một số đề xuất ban đầu

Hình Ảnh